Thứ năm, Ngày 22 Tháng 10 Năm 2021

Truyện ngắn

Gửi Email In trang Lưu
Rau cay

24/06/2021 08:17

Minh họa: Ngô Xuân Khôi

  Đỉnh Pú Nhủng có ba ngọn núi như ba người ôm nhau, nhà Páo chỉ có hai cha con. Khi Páo nhận ra trong “căn nhà” của mình thiếu một người đàn bà, Páo hỏi cha: “Mẹ đâu?”. Cha nói mẹ Páo đi xa lắm, đi khi nào mỏi chân thì về. Cha còn nói năm lên bốn Páo suýt chết đuối dưới sông Nho Quế. Cha cứu được Páo nhưng Páo phải để lại một phần hồn dưới sông. Páo không nhớ được gì về ngày bé nữa. Páo tin cha như tin dòng Nho Quế không bao giờ ngừng chảy, khô cạn.

 Páo là cái cây bám sâu vào đá núi khô cằn là cha, để uống mạch nước còn âm ỉ chảy. Cây dần lớn lên và đất thêm cằn cỗi, già nua mỗi ngày. Páo hồn nhiên sống như bao đứa trẻ trên cao nguyên. 
 Páo lớn lên, không nhớ đã bước bao nhiêu bước sau cha. Cha con Páo đi dọc dòng sông Nho Quế, đến nơi đất dồn đuổi những mỏm đá xám co lại thành từng cụm, ở chỗ ấy có thể trồng được cái để ăn. Páo biết cha đã đi như thế từ lâu lắm rồi, từ ngày cha còn trẻ. Đó là tất cả những gì Páo biết về việc đang làm của hai cha con.
 Tháng năm sống đời du canh. Ở đám nương này vài ba năm lại đi đám nương khác. Trên đám nương ấy cha con Páo dựng lều. Ngôi nhà nhỏ ở bản cũ vẫn ngóng trông cha con Páo từng ngày. 
 Cha con Páo trồng ngô trên những đám nương tự khai phá. Đi đến đâu hai cha con mang theo hạt ngô, cõng phù sa, cõng nước từ dòng sông lên đổ thêm vào những hốc đá để trồng được nhiều ngô. Hai cha con Páo chỉ thu một phần đủ ăn, một phần để bán đi mua những thứ cần cho sinh hoạt, phần còn lại cứ để vậy đợi chờ.
 Những nương ngô, đậu của các nhà khác trong vùng không thể thiếu cây lanh, cây chàm. Vì nhà họ có đàn bà con gái. Nương ngô nhà Páo không có một chiếc lá nào của loại cây ấy, chỉ gieo cải quanh năm. Loại cải bẹ to, lá xanh, hoa vàng, càng sương, rét cây cải càng lên nhanh. Cải là loại rau ăn quanh năm của cha con Páo. Những lứa cải không ăn kịp lên ngồng. Cái ngồng đầu tiên bị hái đi lại chồi lên năm bảy cái ngồng khác. Hái càng đau, ngồng lên càng nhiều. Những cái ngồng mập mạp, tua tủa nụ, chần qua nước sôi ăn đắng ngắt, cay xè, hơi cay xộc lên tận óc. Ăn được một cái ngồng thì nước mắt nước mũi tứa ra, giàn giụa. Cha nói ngày xưa mẹ Páo thích loại rau này. Mẹ gọi là rau cay. Cha Páo yêu mẹ nên thích rau cay. Páo thích rau cay vì Páo là con họ...
 Người ta ít thấy cha con Páo xuống chợ. Có hai cha con nên chẳng cần nhiều thứ trong chiếc lều nhốt ba con trâu không vừa. Xuống chợ cha luôn cho Páo đi cùng. Cha thường đứng tần ngần hồi lâu trước những chiếc khăn, áo, sợi chỉ xanh đỏ... mà đám đàn bà con gái đang xúm xít mua. Có lần cha tiến lại đống khăn áo đó cầm lên một chiếc khăn rồi hững hờ bỏ xuống, bước vội đi. Cha đến hàng thắng cố, không ăn thắng cố chỉ rót rượu hết bát nọ đến bát kia. Rượu cũng cay như rau cay nên mắt cha tứa nước. Páo quen hơi rượu rồi biết uống rượu từ những lần xuống chợ.
 Nhiều đêm cha ngồi như một mỏm núi chênh vênh, im lìm đợi gió gào cho thêm tê tái,  cho thêm trơ lì. Và cũng nhiều đêm cha ôm Páo vào lòng. Páo thấy toàn thân cha nóng rực, căng lên. Cha trằn trọc, nén những tiếng thở dài...
 Páo đã mơ, giấc mơ của thằng con trai ria mép còn lún phún lông măng. Trong mơ Páo gặp những đứa con gái có bắp chân tròn lẳn, ngực căng như hai quả bầu đẫy đà. Sau những buổi sáng, bước ra từ cơn mơ Páo thấy lâng lâng. Páo xấu hổ khi chợt nhận ra những vết loang lổ ở đũng quần. Cha bắt gặp sự lúng túng của Páo. Cha nhìn lảng đi nơi khác. Ánh mắt của cha vừa vụt sáng rồi tối sẫm lại, đầy lo âu. “Con gà trống biết gáy rồi đấy. Họ Sùng có con trai lớn rồi !”. Một buổi sáng cha nói vậy khi Páo đến ngồi bên cha...
 Những đêm đông giấc mơ đến với Páo nhiều hơn. Páo thấy cha thở dài, như tiếng thở của con trâu sau buổi cày nương. Và Páo dần hiểu ra tiếng thở dài của cha là vì sao. Páo lại hỏi : “Mẹ đâu, sao đi mãi không mỏi chân à ?”.  Câu hỏi  Páo đã hỏi cha rất nhiều lần, lần nào Páo cũng nhận được câu trả lời : “Cái chân chưa mỏi đâu. Phải đợi thôi!”. Nói rồi cha nhìn xuống dòng Nho Quế, không nhìn Páo.
 Một năm... hai năm… Páo không muốn hỏi cha nữa. Páo thấy hình như dòng Nho Quế sau một năm lại cạn dần đi.  Páo nhìn dòng sông đầy nghi hoặc, lo lắng.
    Hiếm lắm mới có bàn chân một người đàn bà, một đứa con gái đặt trên đám nương nhà Páo. Páo cho ngô, cả rau cải cho bất kì một người đàn bà nào qua đám nương nhà Páo. Páo mong họ đến. Nhiều người đã đến. Trong số họ một vài người đàn bà chết chồng. Ánh mắt họ lạ lắm khi nhìn cha Páo. Con gà trống thấy con gà mái thì gáy, Páo mong cha nói với họ một câu, cười với họ một tiếng. Nhưng cha chỉ lùi lũi làm như con gà trống vừa bị thiến vừa bị sợi tóc rối mắc trong cổ. Những người đàn bà ấy dần ít qua nương nhà Páo... Và khi cha con Páo chuyển nương đi nơi khác, Páo không gặp lại họ.
Cha càng trở nên lầm lì. Đêm càng dài đối với hai cha con. Páo hay nhắc đến những người đàn bà hai cha con từng gặp. Páo giận dỗi nói với cha: “Đàn ông phải có đàn bà. Không có đàn bà thì cái chân bước sẽ mỏi, cái đầu nghĩ sẽ tối. Cha phải lấy vợ thôi. Mẹ đi nhiều cái chân quên lối về đất họ Sùng, cái đầu quên nghĩ về người họ Sùng rồi”.  “Không, không phải đâu. Vợ tao đã là ma họ Sùng. Đi hết núi, hết rừng cũng phải về mà. Tao không lấy người khác đâu”.  Páo hét lên:  “Người già mà nói dối thế à? Mẹ không về, mẹ quên đường về rồi!”. Páo khóc rống lên nghe thành tiếng con lợn bị chọc tiết, khi nhớ đến một người trong bản từng nói mẹ Páo chết từ lâu rồi...
   Cha ôm đầu, những sợi tóc ngả màu loà xoà trên đầu gối. Páo nghe giọng cha như tiếng từng giọt nước khó nhọc nứt ra từ đá. Những giọt nước tuôn thành một dòng sông đưa cha con Páo về lại tháng ngày xa cũ...
    Sùng Mí Dùng là con trai độc nhất của dòng họ Sùng ở Lùng Chín Thượng. Người trong bản bảo ông trời thường công bằng. Họ Sùng có nhiều đất, có nhiều vàng bạc, trâu ngựa nên nhà họ Sùng hiếm con. Bố Sùng lấy ba vợ chỉ được mụn con trai duy nhất là Dùng. 
    Lớn lên Dùng lấy vợ như con chim, con thú phải có đôi. Ba năm về nhà chồng vợ Dùng đẻ một thằng con trai. Dùng được bỏ chữ “Mí” trong họ tên, thay bằng chữ khác, được làm người lớn. Đàn ông lấy vợ không làm cho vợ đẻ được con, có giết ba con trâu để làm lễ đổi tên người ta cũng không đến. Phải có đứa con thì mới đổi tên được, mới thành người lớn được. Không đổi được thì chết vẫn là trẻ con và bị người ta khinh miệt. Dùng được đổi tên làm người lớn nhưng vợ Dùng tịt không đẻ nữa. Cha mẹ Dùng chờ mòn con mắt vợ Dùng vẫn cứ như hoa chuối rừng rừng rực cháy quanh năm mà không đậu được quả nào. Cha mẹ Dùng lại bán trâu ngựa, bạc trắng, những đám nương tốt và làm mọi cách để con dâu đẻ thêm đứa con nhưng không được. Tuổi già đang kéo họ gần đến ngày về với tổ tiên ông bà. Họ hoảng sợ đến ngày ấy mà đứa con dâu kia vẫn không đẻ được thêm một đứa con trai... Một thằng con thì biết đâu đấy. Không thể yên cái bụng được.  “Có người thì có cả núi cả rừng, không có người là không có gì cả”. Họ trở nên cay nghiệt. Đứa con dâu bị ruồng rẫy, hắt hủi.
 Dùng thương vợ nhưng Dùng không thể làm gì. Đàn bà Mông khi lấy chồng thì như thắng cố đã sôi trong chảo, mặn nhạt, đắng cay, sống chín… là do tay nhà chồng. Vợ Dùng không có lỗi. Đêm nào cha mẹ chửi vợ, Dùng chỉ biết lảng đi chỗ khác. Cha mẹ thôi chửi Dùng mới lặng lẽ vào ôm vợ. Người đàn bà của Dùng buồn tủi, khổ đau sao vẫn căng mọng, hừng hực? Tất cả là tại Dùng, tại Dùng…
   Vợ bỏ đi vì thương Dùng, thương và sợ cha mẹ chồng… 
   Páo trở về sau những ngày lang thang khắp cao nguyên. Núi đá trùng điệp, cây rừng trùng điệp… Không tìm được mẹ cho cha, Páo phải về...
     Chiều. Cha ngồi lặng phắc bên dòng Nho Quế. Sương trắng thả những sợi khói lượn trên mái đầu cha. Đôi mắt cha xoáy cái nhìn vào dòng sông. Con sông nơi cha đã sinh ra, lớn lên và cha nhìn vào nó mỗi ngày.
    - Con về cha à.
   Cha nhìn Páo. Cái nhìn như đón chờ như không. Nhưng Páo biết trong đôi mắt cha là tình yêu thương nhiều hơn đá núi, dài hơn sông Nho Quế. Páo lại gần cha, hai cha con ngồi bên nhau thành hai tảng đá như bao buổi chiều khác. Lặng phắc. Đau đáu. Đợi chờ…
   Cha không hỏi gì thêm. Cha sợ câu trả lời của Páo!…
   Cha con Páo tiếp tục những ngày tháng lầm lụi, miệt mài, xa bản, xa ngôi nhà nhỏ trên mảnh đất tổ tiên họ Sùng. Mỗi lần trở về bản cũ đôi chân Páo càng thấy lạ lẫm với những lối mòn.
    Rừng đã bị phá nhiều. Cha cố tình để thêm nhiều ngô lại sau mỗi vụ thu hoạch mà không có con thú lớn nào tìm đến ăn. Duy chỉ có loài chuột. Nhưng loài chuột không phải là loài cha Páo mong đợi. Cha ghét loài chuột và đặt những chiếc bẫy chỉ loài chuột mới có thể bị sập. Chúng không dám đến nữa. Mưa xuống bắp ngô trên xác cây oải ra. Hạt ngô trơ ra thô lố. Những cái mầm nảy trên bắp ngô. Cha nhìn những bắp ngô tua tủa mầm xanh như đang nhìn vào vết thương...
    Cha con Páo lại tiến sâu vào trong rừng, tiến dần lên đỉnh núi. Páo nhận ra hai cha con đang cách xa cuộc sống con người. Mỗi khi bắt gặp một đứa con gái, cái bụng Páo rạo rực, máu trong người sôi lên. Páo muốn chạy theo nó. Nhưng Páo không biết thổi khèn, không biết nói những lời một đứa con gái thích nghe.
 Nhiều khi Páo thấy cuộc sống thật tẻ nhạt, nhàm chán. Tháng năm cứ nối tiếp những cuộc ra đi, làm những công việc lầm lụi... và chờ và đợi. Đã mấy lần chuyển nương rồi. Páo mệt mỏi. Páo muốn về nhà, để không còn cảm thấy thèm một bóng người mỗi khi nhìn con chim bay về rừng nữa. Páo mong được như lũ trai bản dắt ngựa xuống chợ không mua gì, chỉ uống rượu rồi ngắm lũ con gái cho no con mắt. Páo thèm bóng dáng một đứa con gái. Páo thèm được nghe một người nào đó gọi tên...
    Những bông hoa cải vẫn nở theo bước chân cha con Páo mỗi lần chuyển nương. Có lẽ càng tiến sâu vào rừng, lên đỉnh núi cao sương gió nhiều nên mỗi mùa cải lên ngồng, Páo lại thấy món rau cay như cay hơn, đắng hơn. Cha con Páo vẫn nhấm nháp vị cay của ngồng cải mỗi mùa. Bữa cơm giàn giụa nước mắt vì cay...
    “Cha à ! Ta về đám nương nhà họ Sùng, gần ngôi nhà họ Sùng thôi. Chính quyền không cho đi như thế này nữa đâu !”. Páo nói với cha khi chính quyền cho người gọi cha con Páo về trụ sở xã. Cha Páo không về, Páo phải đến gặp họ. Hai ngày đường về với cha, Páo gặp một đứa con gái. Páo không biết nó ở đâu, tên gì. Nhưng khi Páo nhìn nó, nó nhìn lại Páo. Nó lao xuống dốc để lại tiếng cười làm con tim Páo muốn vọt ra khỏi lồng ngực. Páo không đuổi kịp nó. “Cha đợi lũ khỉ ấy làm gì. Người ta đã bắn hết khỉ rồi. Cha đừng tìm nữa cha à!”. Câu nói của Páo làm lửa trong cha bùng lên. Cha vùng đến, hai tay xiết chặt hai vai Páo. Cha hét lên: “Cái đầu mày tối như đầu con trâu trong góc chuồng. Tao phải chờ. Bầy khỉ không bị giết. Rồi nó sẽ về thôi!”. Páo run rẩy trước hành động quá bất ngờ của cha. Đôi mắt cha vằn những tia đỏ ngầu. Rồi cha rũ xuống khóc rưng rức. Lần đầu tiên cha Páo khóc như thế. Páo đứng như cây sa mộc chết lặng. Páo thấy thương cha, thấy cái miệng Páo như cái miệng con rắn xanh rồi.
    Cha ngẩng lên, gương mặt đanh lại, không còn một giọt nước nào trên khoé mắt. Cha nhìn Páo đáu đáu, xám bạc một màu đá. "Hổ ăn thịt người thì ngủ say. Người làm chuyện ác thì ngủ không được. Mày lớn thật rồi Páo à. Tao phải nói cho mày biết để mày không làm chuyện ác nữa”.
    Ngày trẻ Dùng là tay săn thiện xạ. Dùng có khả năng hơn người bởi Dùng có thể phân biệt được tiếng bước chân, tiếng thở của từng con thú khi chưa nhìn thấy chúng. Những cuộc đi săn của đàn ông con trai trong bản không thể thiếu Dùng. Con thú nào gặp Dùng sẽ không bao giờ được về với rừng nữa. Nhưng một lần đi săn cùng phường Dùng đã bắn nhầm con khỉ có chửa.
    Hình ảnh con khỉ con mắt mở trừng trừng, nằm gọn trong bụng con khỉ mẹ bị rạch một đường từ cổ tới đuôi làm Dùng không dám nhớ đến lời đàn bà thường dặn đàn ông trước khi xách súng vào rừng : “Đừng giết khỉ có chửa mà gặp nghiệp báo!”. Không người đàn ông nào nhớ lời vợ dặn khi qua cửa rừng vì họ không tin. Nhưng hình như chưa người đàn ông nào ở bản Hồ Thầu giết khỉ có chửa.
   Dùng không dám kể với cha mẹ buổi đi săn ấy. Dùng cũng không trả lời cha mẹ tại sao không đi săn nữa.
   Đó là lần đi săn cuối cùng trong đời Dùng.
   Vợ Dùng là cô gái đẹp nhất vùng Tản Kha Van. Đẻ một đứa con vợ Dùng càng đẹp.  Dùng yêu vợ cuồng nhiệt hơn gió quất cây rừng, nước xiết trên ghềnh đá. Hằng đêm Dùng sờ vào bụng vợ, bàn tay nóng hôi hổi. Chả thấy gì. Dùng lại áp tai vào bụng vợ nghe ngóng, hồi hộp chờ đợi. Bụng vợ Dùng vẫn phẳng lì, mềm mại và ấm. Hàng tháng, vợ Dùng vẫn phải ăn thật nhiều hạt tiêu rừng để được gần chồng nhiều hơn. Nhiều đêm Dùng lại mơ thấy con khỉ mẹ nằm ngửa với cái  bụng bị rạch toang hoác, con khỉ con nằm bên trong đôi mắt mở to kì lạ, trừng trợn. Dùng hoảng hốt, tiếng hét của Dùng làm vợ Dùng tỉnh giấc. Sáng ra, khi vợ nhìn, Dùng không dám ngước lên. Gặp đàn bà chửa Dùng không dám nhìn.
.   Cha mẹ Dùng đã dắt về nhà một đứa con gái. Người nó căng tròn, đôi bầu ngực thây lẩy. Đêm đó, Dùng uống rượu nhà một người trong bản, rồi về lần vào buồng với vợ. Dùng đổ ụp xuống tấm thân nằm nghiêng nghiêng trên giường. Dùng khựng lại. Lâng lâng say nhưng Dùng vẫn phát hiện ra cái mùi này không phải mùi vợ. Dùng lao ra ngoài. Dùng ngửi thấy trong gió còn mùi vợ. Đêm đó Dùng không tìm được vợ. 
    Hơn một năm Dùng đến Tản Kha Van hàng trăm lần. Con ngựa chở Dùng quá chán nản với đoạn đường quen thuộc. Người nhà họ Vàng, người trong vùng biết mười mươi vợ Dùng đã bỏ đi vì không biết đẻ. Họ dần quên vì con gái họ Vàng đã thành người họ Sùng. Sống hay chết thì cũng ở nhà họ Sùng.
    Riêng Dùng thì không quên. Chỉ nhớ và đau thêm. Dùng nghe ngóng và hễ có tin gì là Dùng lại dắt ngựa đi. Những cuộc đi lần sau dài hơn lần trước. Dùng còn tin, còn hi vọng. Sức lực cha mẹ Dùng như nước trong quả bầu khô, sắp cạn kiệt. Họ cố chắt từng giọt, từng giọt để chờ. Họ đã không được thấy thêm đứa cháu trai của họ Sùng. Cha mẹ oán trách Dùng. Người đàn bà bố mẹ Dùng dắt về cũng không thể hoá đá chờ người đàn ông không bao giờ đụng vào người mình. Người đàn bà ấy lặng lẽ ra đi khi chưa thực sự được làm đàn bà.
    Đã mấy năm người Lùng Chín Thượng không thấy Dùng dắt ngựa đi xa. Hay chân người và chân ngựa đã mỏi? Người trong vùng lại thấy Dùng hùng hục cõng phù sa ở dòng Nho Quế lên trồng ngô, hết đám nương ở vùng này lại sang phát đám nương ở vùng khác.
   Một lần tìm vợ ở vùng xuôi, Dùng nghe được một bài thuốc chữa bệnh cho những đôi vợ chồng không có con. Bài thuốc ấy lại liên quan đến một lời nguyền về loài khỉ nên Dùng càng tin. Dùng mang một niềm tin mãnh liệt vào bài thuốc và công việc ấy sẽ làm cho lòng Dùng đỡ day dứt ân hận hơn. Dùng cũng tin sẽ có ngày vợ Dùng trở về.
   Loài tầm gửi trên thân cây kim lăng trong những cánh rừng thâm u không quá khó tìm đối với Dùng. Nhưng bầy khỉ thì không dễ tìm. Chúng ngày càng ít xuất hiện hơn. Thú rừng bị săn nhiều nên chúng ngày càng xa lánh con người. Dùng không thể vào rừng để tìm lũ khỉ. Thứ Dùng cần lấy ở lũ khỉ chỉ có thể tìm thấy ở trên đá. Chỉ trên đá thứ ấy mới chữa được bệnh. Dùng dựng lều cho hai cha con ngày ngày bền bỉ cõng những quẩy tấu chất đầy phù sa, những ống chứa đầy nước đổ vào từng hốc đá, từng gốc cây. Dùng quần quật khuân những tảng đá bằng phẳng đặt rải rác trên nương. Dùng chờ đợi…
 Dùng không phải đợi lâu. Đám nương đầu tiên Dùng khai phá ngô chín căng nứt bẹ, nhe những chiếc răng trắng như răng ngựa non. Lũ khỉ đến. Nhiều khỉ cái đuôi nhèm nhẹp máu ngồi trên đá. Nhưng chúng không để lại gì.
   Một buổi sáng, tim Dùng như muốn vỡ tung. Trước mắt Dùng, trên một vết lõm bằng ngón tay ở tảng đá trắng đầy tràn thứ chất lỏng màu nâu đen. Huyết lình! Huyết lình thật rồi! Dùng như không tin vào mắt mình, chỉ thấy nước mắt cứ từ từ bò ra, lăn trên đôi gò má sạm đi vì sương gió. Dùng lấy một chiếc muỗng nhỏ tí tự làm để lấy huyết lình. Sau lớp màng nâu là thứ chất sền sệt đỏ rực như mào gà trống. 
 Nhiều người đàn bà tìm đến Dùng. Dùng không còn mơ thấy con khỉ cái tội nghiệp ấy nữa. Dùng không sợ nhìn đàn bà chửa. Dùng mong những người đàn bà Dùng cho thuốc đến với cái bụng nặng nề nhưng khuôn mặt thì nhẹ nhàng, thanh thản, ánh mắt mãn nguyện nói với Dùng họ sắp có con, dòng họ nhà chồng đã có người nối. Họ về mang cả niềm vui của Dùng đi theo… 
   Có nhiều đêm Dùng thấy thân thể mình căng lên. Dùng nhớ mùi vợ, nhớ tấm thân tròn lẳn của vợ. Dùng vật vã. Dùng lao xuống dòng Nho Quế. Thân người Dùng thì nóng, dòng nước thì lạnh nhưng trong lòng cả hai cùng lồng lộn, bạo liệt…
      “Vì tao làm chuyện ác nên họ Sùng bị trời phạt. Tao phải chuộc tội với thần rừng, với họ hàng nhà khỉ.  Cải lên ngồng, cải chết mấy mươi lần rồi. Mẹ mày không về rồi, Páo ơi!”. - Cha ôm mặt khóc tu tu…
     Cha con Páo lại đi. Páo sẽ cùng cha chuộc tội với thần rừng, với loài khỉ. Páo muốn cha được yên cái bụng. Lại những mùa rau cay. Páo cũng đi tìm mẹ vài lần nhưng vô vọng. Cha không cho Páo đi nữa… Cha sợ Páo đi xa. Nhìn vào mắt cha, Páo biết.
     Cha con Páo không thể trở về bản Hồ Thầu được nữa. Lũ quét, núi lở cả bản đã chuyển đi nơi khác rồi. Ngôi nhà nhỏ và mảnh đất nhà họ Sùng cũng không còn. Cha con Páo về đó để nhìn cái buồn, cái đau à? Cuộc sống con người càng xa với  hai cha con.
        Một buổi có hai người đàn ông lạ vác súng vào rừng. Cha Páo ngăn họ nhưng không được. Một thằng chửi cha: “Cái thằng Sùng Mí Dùng kia, mày vẫn là thằng trẻ con thôi. Mày có quyền gì mà cản chúng tao, rừng là của chung, tao thích thì tao vào!”. Cha lao vào hai cái thằng đó. Páo cũng vọt ra như một con thú, hai thằng đó lủi mất. Cha ngồi bệt trên đá khóc, khóc ồ ồ như tiếng nước chảy. Páo nhìn cha, tim Páo bị một bàn tay nào đó bóp nghẹt. Páo nghi ngờ cha vì Páo vẫn chưa quên câu chửi của thằng đó. “Nó là con rắn độc, con hổ dữ, mày đừng tin! Tao đẻ ra mày, tao không còn phải mang chữ “Mí”!”. Páo chỉ có cha. Páo không tin cha thì tin ai? Nhưng nọc của con rắn độc ngấm vào Páo, càng làm Páo đau mỗi ngày, Páo lại phải nghĩ về câu chửi của nó…
      Hình như cha đã nghe được những tiếng thở dài của Páo. Páo đã mơ từng đêm, thở dài từng đêm… Nhiều đêm Páo giật mình bởi tiếng một đứa con gái gọi tên Páo. Páo tỉnh dậy thì chỉ là tiếng lá rên rỉ, tiếng oằn oại vọng lên từ dòng sông.  Cha càng lùi lũi như con ngựa già. Hai con mắt muốn tụt vào tận sâu. Cái nhìn thì xa vời vợi, mênh mang. Khi cha ngồi trên nương, hướng về dòng sông đang quằn quại vượt ghềnh đá Páo thấy như không phải cha đang ngồi đó. Hồn cha như đã bay theo đám mây, trôi theo dòng nước. Bên Páo chỉ là sự hiển hiện của mỏm đá vô hồn. Mọi cái vui, cái buồn không còn trên mặt cha.
     Mới vào mùa đông mà cỏ đã chết trắng trong những hốc đá vì hai tháng không có mưa. Những cây cải cũng héo quắt, chút nước cha con Páo cõng lên từ sông không làm cho nó hết khát. Mắt cha rân rấn khi nhìn những cây cải. Cải cứ nhẳng ra, ngồng thì lại lên nhanh. Những cái ngồng của mùa khô hạn ăn càng cay hơn. Cha con Páo vẫn hái ngồng cải làm rau cay…     
     Một đêm hai cha con nằm nghe tiếng thở của nhau cho đến sáng. Cha dậy, Páo cũng chui ra khỏi chăn. Cha trân trân nhìn bếp lửa rừng rực cháy, đôi bàn tay vân vê những sợi thuốc. Những sợi thuốc vê đi vê lại tròn vo. Mấy lần điếu thuốc tuột khỏi tay cha. Cha làm lại điếu khác, chiếc tẩu sắp rơi khỏi miệng. Rồi cha bỏ cả tẩu và thuốc. Cha rân rấn nhìn Páo. Soi vào mắt cha Páo biết cha đang cảm thấy khó khăn khi sắp nói ra một điều gì cất sâu lắm trong bụng. Đám lửa như chui vào bụng Páo. Cha tránh đôi mắt chờ đợi của Páo. Cha nhìn vào lửa, mong lửa làm cho lòng cha ấm lên! Cha nuốt khan một cách khó nhọc.
   - Páo à ! Mày đi tìm cha đẻ mày đi! Tao không đẻ ra mày. Mày không phải họ Sùng đâu. Tao chưa được làm người lớn. Tao không thể giữ mày. Mày phải tìm cha đẻ, nhận lại họ. Xong rồi đi tìm người đàn bà của đời mày. Tao không đi đâu được nữa. Tao phải ở lại rừng. Phải trả món nợ...
  Người cha run run nhưng từng lời từng câu sao rõ thế. Páo thấy đầu Páo như bị ai lấy đá đập vào. Và trong Páo dòng sông đang cạn dần, khô khốc, trơ ra những mỏm đá như mũi chông và mắt lũ cá trợn lên, trắng dại. 
   - Cha, cha già nên nói lẫn rồi à? Con...c...o...n...! Cổ họng Páo ắng lại. Ở đó có một cục đá hay một cái gai chẹn ngang. Mắt Páo tối sầm. 
  - Mày phải nghe tao chứ. Không đẻ được một thằng con như mày nên vợ tao mới phải bỏ nhà họ Sùng đi. Mày ngã xuống sông, cái đầu mày quên nên tao đã nói sai với mày. Tao phải nói thế, tao sợ mày bỏ đi… Nhưng bây giờ mày như con chim đủ lông đủ cánh rồi, tao không giữ chân mày được. Tao không được lấy họ của mày. Lấy họ mày là làm chuyện ác. Họ nào sinh ra mày, mày phải trở về họ đó. Mày nghe, nhớ lấy, rồi đi đi...
    “…Một buổi sáng tao trở về nhà. Có thằng đàn ông mang một thằng trẻ con mới đẻ đến tìm tao. Nó đã tìm tao mấy ngày. Vợ nó ngày trước đến xin thuốc của tao. Nó không tin thuốc của tao. Nó không tin vợ nó. Nó bảo thằng trẻ con không phải con nó. Vợ nó chết vì bị nó chửi. Nó để lại thằng trẻ con cho tao rồi bỏ đi không bao giờ quay lại nữa…”.
   … Cha ngừng kể. Cha nhìn vào mắt Páo. Páo thấy trong hai hõm mắt trũng sâu có thứ nước đặc sệt rịn ra.
   - Thằng trẻ con là mày, Páo à. - Giọng cha Páo lạc đi.
  Páo ôm cha. Nước mắt Páo rơi vào những sợi tóc bạc đổ gục trên đầu cha xơ xác. 
    Páo nói với cha Páo không đi đâu. Páo không đi tìm cái người bỏ Páo. Páo là người họ Sùng! Chỉ có cha là cha của Páo thôi. Cha câm lặng mấy ngày, Páo hỏi câu gì cũng không nói. Núi cao, rừng cây thế này, Páo biết đi đâu. Nhưng đêm về Páo thấy một nỗi khát thèm. Páo cố nén lại để ở bên cha, nhưng càng nén người Páo càng muốn nổ tung. Páo thấy thèm một đứa con gái…
 Bữa cơm tiễn Páo đi, cha hái những cái ngồng héo quắt vì hạn làm rau cay. Những chiếc ngồng cải ngâm trong nồi nước xôi vẫn xanh ngắt, cay xè nơi đầu lưỡi, cay lên mũi, lên mắt. 
     Cha gắp thêm một cái ngồng cải cho Páo, nói:
   - Ăn đi để nhớ! Như lũ dê nhớ túi muối treo cửa chuồng, đi khắp núi đồi vẫn biết tìm đường mà về, con trai à! 
   Làm sao Páo có thể quên cha, quên ngôi nhà đã chở che Páo, quên những lối mòn về bản Hồ Thầu, nơi ngày xưa có ngôi nhà nhỏ và mảnh đất của họ Sùng. Cọng rau ứ lại trong cổ họng Páo nghẹn ngào, cay cay.
  Páo đứng trước bàn thờ tổ tiên họ Sùng thắp hương vái lạy. Cúi chào cha. Páo đi, đi thật…
   Bước chân nặng trĩu, không biết là do đá dưới chân níu lại hay tiếng thở dài phía sau. Páo nhìn tất cả đều nhoà đi và nghe có tiếng mưa. Tiếng mưa âm thầm từ trong mắt thằng trai Mông hơn hai mươi tuổi. Páo cũng không biết là sẽ đi đâu. Chân Páo dẫm lên những mỏm đá sắc nhọn, nhói đau…
    Páo ngoái đầu lại không thấy bóng cha đâu, chỉ thấy bạt ngàn ngồng cải đang rũ rượi, khô héo trong gió rét.
  
 

Nguyễn Phú

Tin khác

Những đứa gái mùa Covid (28/05/2021 16:27)

Cốc Nặm (28/05/2021 16:16)

Sáo và Mai (28/05/2021 16:05)

Đồng đội (28/05/2021 16:01)

Tùy duyên (28/05/2021 15:58)

Bóng người sau lưng ngựa (26/04/2021 08:36)

Sâu lắm lòng người (26/04/2021 08:33)

Phiên trực đầu xuân (22/03/2021 15:19)

Lũ đầu mùa (22/03/2021 15:14)

Thằng Khẻo (22/03/2021 14:54)

xem tiếp

Nhân vật sự kiện lịch sử

Thơ mới đăng

Văn xuôi mới đăng

Thăm dò ý kiến

Bạn đang tích lũy tài sản gì?
Bất động sản
Tài sản cố định
Tiền gửi ngân hàng
Tiền mặt
Vàng