Thứ năm, Ngày 22 Tháng 10 Năm 2021

Truyện ngắn

Gửi Email In trang Lưu
Giàn phong lan nở rộ

23/08/2021 15:39

Minh họa: Ngô Xuân Khôi

  Trời trong gió mát, núi rừng nhuộm ánh trăng vàng, soi rõ từng nan mây vàng óng của chiếc chiếu trải rộng trên thích nhà sàn. Anh em tôi, nằm bên bố ngửa mặt lên trời ngắm trăng sao. Nghe bố kể chuyện ngày xưa. 

 Bỗng có tiếng gọi, bố tôi xuống thang ra cổng. Vừa thấy bố tôi, người ấy hỏi:
 - Bác cho cháu hỏi thăm, từ đây vào Khuôn Cưởm còn xa không ạ?
 - Đây là Khuôn Cưởm, anh hỏi nhà ai?
 - Dạ, cháu hỏi thăm vào nhà ông Nhạ.
 Vừa nghe nhắc đến tên mình, như nhận ra giọng nói thân quen, bố tôi sững lại, rồi nhanh bước đến. Linh tính như mách bảo, bố tôi hỏi:
 - Nhất, phải không con? 
 - Chú!...
 Người ấy ôm lấy bố tôi nghẹn ngào: 
 - Con về quê, cô Nhài cho địa chỉ, con đi tìm chú. 
 Bố tôi quàng tay ôm lấy vai anh, cứ như thế rất lâu, vỗ vỗ vai anh thân thương, không nói nên lời. Đưa anh lên nhà, đến chân thang anh loay hoay nửa như muốn cởi giày, nửa như không, chần chừ. Bố tôi hiểu ý.
 - Con cứ cởi giầy ra, đi tất lên nhà, tí nữa tắm rửa sau.
 Anh vào nhà, bố tôi nói với mẹ:
 - Đây là thằng Nhất, con anh Nhã, nó biệt tích hai mươi mấy năm nay, bây giờ mới về.
 - Nghe đến tên anh, mẹ tôi thoáng chút nghi ngại, nhưng rồi vui vẻ ngay, lấy thịt lợn ướp cơm rượu nếp trong ống nứa dại trên giàn bếp xuống làm thức ăn cho anh, vừa nói chuyện.
 - Ngày chú đưa thím về, con không có nhà. Thím được nghe nói chuyện về con… Bệnh tình của con thế nào rồi?
 - Dạ thưa, con khỏi mới dám về thím ạ! Nhưng di chứng để lại, bị cụt mất mấy ngón chân. 
 Bố tôi vui mừng:
 Bị cụt cũng không sao, miễn khỏi bệnh là tốt rồi.
 Mẹ tôi bỏ mấy cành Đài bi khô vào nồi đun nước cho anh tắm, dọn chỗ cho anh nghỉ. Sáng hôm sau mẹ tôi ý tứ gọi từng đứa ra dặn:
 - Con không được nằm gần anh Nhất, không sờ vào tay chân anh nhé. Anh bị hủi phải kiêng, lây bệnh khó chữa lắm.
 Anh em tôi còn nhỏ, không biết gì đến bệnh hủi, thấy mẹ dặn dò có vẻ nghiêm trọng, đứa nào cũng sợ. Anh biết ý, lúc nào cũng giữ khoảng cách với chúng tôi, nhìn chúng tôi thân thương, nhưng không gần gũi. 
 Bố tôi lấy quần áo của mình cho anh mặc, luôn bên anh chuyện trò, rủ anh cùng làm việc này việc nọ. Bố mẹ tôi giữ anh ở lại chơi, gần hai tháng sau anh trở về trại Phong. 
 Núi rừng ngày ấy rậm rạp, những cánh rừng Lim cổ thụ, cây to đến mấy người ôm, cành lá giao nhau kín đất, ong Khoái làm tổ như chiếc nia bám trên cành cao. Từ canh ba chim rừng đã thức líu lo. Suối trong vắt róc rách uốn quanh thung. Thỉnh thoảng vượn hú gọi bầy vang núi, tiếng nai tác tìm đàn não lề đơn côi mỗi khi đêm xuống. Bản tình ca bất tận của núi rừng đại ngàn. Trong âm thanh hoang dã trong trẻo ấy, lũ hùm beo lì lợm rình bắt gà, bắt lợn, chúng là nỗi lo sợ của dân làng. Người nghèo vào rừng săn bắt, đào củ, hái rau sinh sống. 
 Ngôi nhà nhỏ dưới chân núi, đêm khuya, mưa dầm gió bấc rít từng cơn, giá lạnh. Tiếng chim mảng kêu từng tiếng thất thanh đến sởn gai ốc. Bếp lửa giữa nhà chỉ đủ ấm cho đàn con nhỏ đắp tấm vỏ sui xác như xơ mướp nằm quanh. Đĩa mỡ leo lét ngọn đèn lờ mờ chiếc sạp tre, bà sinh con tự đỡ, bị băng huyết chết nằm đó. Ông ôm đứa con vừa lọt lòng, quấn trong mấy cái váy đụp, trân trân nhìn bếp lửa sắp tàn. Ngoài kia tiếng gió, tiếng mưa dập dồn, ngôi nhà nhỏ bé lạnh lẽo, lẻ loi.
 Cha con rau cháo nuôi nhau qua ngày. Các con lên tám chín tuổi lần lượt đi ở đợ, chăn trâu cho người kiếm cơm ăn. 
 Một hôm ông Phương trên làng Sơn Thượng đến nói với ông:
 - Cảnh gà trống nuôi con vất vả quá! Chú cho tôi mướn một, hai thằng về chăn trâu, mỗi mùa tôi trả chú mỗi thằng ba gánh thóc.
 Ông suy tư một lúc rồi nói:
 - Vâng! Được ông thương là quý lắm, cháu lớn đi ở đợ rồi, cháu Nhã mới có tám tuổi còn thơ dại lắm.
 - Không sao, chú cho nó về ở với tôi. Tôi nuôi, nó biết theo người đi đuổi trâu là được.
 Đôi mắt đỏ hoe, Nhã khoanh tay trước ngực chào bố, rồi theo ông Phương về làng Sơn Thượng. 
 Nhà ông Phương có đến dăm sáu chục con trâu, con ngựa, hàng trăm mẫu ruộng, nương soi bãi. Vậy mà ông vẫn thuê người khai phá đất, đào thêm ruộng. Đất đai nhà ông ngày càng nhiều, lúc nào trong nhà cũng có hàng chục người làm công, người ở. Ông ít nói, cần cù chẳng nề hà việc gì, thuê người làm là vậy, mà ông vẫn dãi nắng, dầm mưa đi làm với họ. Ngoài việc ruộng nương, ông còn bán thóc gạo cho lái buôn, bán trâu, đổi ngựa. Ai cần thì đến, ông chẳng đi đâu, suốt tháng quanh năm quần sắn trên gối. 
 Quan Tri huyện, Chánh tổng xuống đàm luận, tiến cử ông ra làm quan làng ông thưa:
 - Tôi quen cày cuốc, chân lấm tay bùm, chẳng rành chữ nghĩa, không làm quan được.
 - Ông dùi mài kinh sử, chẳng chịu lều chõng lên kinh dự thi, chứ chữ nghĩa trong tổng Hữu Thượng này mấy ai rành được như ông? Trên tỏ Thiên văn, dưới tường Địa lý, tính toán hợp thời chắc ăn, người ta mất mùa, nhà ông thì không, giàu có nhất vùng ai không nể sợ. Ông phải làm quan mới trị được dân. 
 Quan trên nói thế nào ông cũng từ chối, nhất mực làm thứ dân. Ấy vậy, chẳng biết từ đâu họ gọi ông là ông trùm Phương, trong xóm ngoài làng ai cũng kiêng nể.
 Mờ đất, cây cỏ còn ngậm sương, Nhã đã khoác túi cơm nắm muối vừng, cùng người làm tháo dóng đuổi trâu, ngựa lên bãi ót, rồi hái củi, tối nhọ mặt mới dong trâu vác củi về. 
 Nhìn thằng bé đi ở, đội lá ráy lùa đàn trâu ngựa về dưới mưa chiều muộn, ông Phương nói với vợ:
 - Thằng Nhã con nhà nghèo mà có da có thịt, khôi ngô, mắt sáng, mũi cao, tai rộng vành rõ nét, được học hành sáng dạ lắm. Nuôi nó sau này được nhờ đấy.  
 Bà Phương mau mắn:
 - Nó chịu thương chịu khó, thật thà hiền lành, bé thế đã biết thân, biết phận, chăm chỉ, lại rộng lòng thấy ai làm gì cũng phụ giúp. Thằng này có đức, để nó chơi với cái Gái nhà mình, cho có bạn. 
 Bà Phương sinh ba, bốn bận, chỉ còn được mỗi cô con gái. Cảnh nhà hiếm hoi, ông bà gọi tên cô là Gái, sợ đặt tên đẹp ma quỷ lấy đi. Gái hơn Nhã bốn, năm tuổi.
 Hôm nào cũng thế, tắm rửa cơm tối xong, ông Phương gọi Nhã lên nhà ngang, học cùng con gái ông. Hai đứa trẻ thân nhau, ông bà thương Nhã.
  Cô Gái càng lớn, càng xinh đẹp, tóc dài quét đất, da trắng mịn màng, má hồng như cánh tầm xuân, mặt mũi xinh tươi. Cô chăm chỉ, tham việc, ít nói, kín miệng giống cha. Sáng nào cô cũng dậy sớm làm việc nhà, rồi lên nương, xuống ruộng cùng người làm. Lúc nông nhàn thì se bông dệt vải, thêu thùa, chẳng đàn đúm bạn bè với ai. 
 Không biết cô dẫm vào cái gì, dưới bàn chân nổi lên những nốt ban đỏ, lan ra khắp người, sưng tấy chảy máu mủ, rồi rụng ra từng đốt, thuốc gì chữa cũng không khỏi. Nghe người ta nói, cô dẫm phải răng nanh con rắn độc chết mục xương bị hủi. Từ ngày bị mắc bệnh, cô ở tịt trong nhà không ra ngoài, nên chẳng ai hay. 
 Nhã mười lăm, mười sáu tuổi ông Phương gọi lên bảo:
 - Từ nhỏ mày đã ở với ông bà, cái Gái chẳng may mắc bệnh, ông cho mày lấy nó nên rể. Mày ở đây, sau này ông bà già còn được nương dựa vào mày. 
 Nghe ông Phương nói, Nhã ngồi im, mân mê vạt áo nâu sờn, trong lòng nghĩ đến cảnh nhà mình: Mồ côi mẹ, bố ở vậy nuôi một đàn con nhỏ, giờ bố mất, anh em phiêu bạt mỗi người một nơi. Đã mấy lần em trai làm liên lạc cho Việt Minh lẻn về, rủ đi lên Liên khu Việt Bắc theo Cách mạng, nhưng không nỡ cất bước ra đi. Ông bà Phương thương, chăm lo cho từng bát cơm manh áo. Rồi những chiều, Gái ra hiên đứng ngóng, thấy Nhã, nét mặt Gái tươi vui, ý tứ bước vào nhà như sợ Nhã biết cô đang mong đợi.  Nhã cũng vậy, mỗi khi vào đến sân là đưa mắt lên nhà trên, thấy Gái là trong lòng ấm áp, vui vui. Anh em con cháu gần gũi ông bà Phương chẳng có ai, chỉ có mình là người thân cận đỡ đần sớm tối, ơn nghĩa ấy ra đi sao đành...
 Bà Phương tiếp lời:
 - Bà biết mày cũng thương nó, quý mến ông bà. Ông bà giao nó cho mày, sau này ông bà già chết đi, còn có mày nuôi nó. 
 Thân phận con ở đâu dám trái ý, Nhã vâng lời ông bà. 
 Ông Phương đưa con rể đi theo thăm ruộng, nương, ông chỉ cho Nhã chỗ này phải làm thế này, thế kia, cần nhiêu bao công... Ông muốn con rể từ một người ở lên làm chủ, phải học thông thạo công việc đồng áng, tính toán chi li công xá cho người làm, chủ động công việc. Nhã được giao cắt cử công việc cho người làm và chăm sóc thuốc thang cho vợ.
 Trên chiếc mảng chòng chành ngược sông, mưa lạnh giá, hai hàm răng đánh vào nhau cầm cập, tay chân tê cóng, tím ngắt, dòng rã gần hai ngày Nhã mới đến Tràng Định, đi tắt rừng lên Na Rì lấy thuốc cho vợ, đã bao lần lặn lội như thế, mà vợ vẫn không khỏi.
 Ông Trùm Phương ngồi trên bộ trường kỷ giữa nhà trầm ngâm, buồn rầu bảo Nhã:
 - Con vất vả đi khắp nơi tìm thuốc chữa cho vợ rồi, nó không khỏi đành cam chịu số phận thôi… Cũng may vợ chồng con được thằng Nhất, thằng Nhị, bố mẹ yên tâm rồi.
 Nhã thưa:
 - Từ khi sinh cu Nhị, nhà con trở bệnh nặng, sốt liên miên mãi không dứt, ngón chân, ngón tay cứ rụng thế này, con lo lắm.
 Bà Phương ôm cu Nhị thở, dài thượt:
 - Biết thế, nên mẹ không để nó bế ẵm cho con bú… thằng Nhị mà lây bệnh thì khổ lắm. 
 Bà cúi xuống, thơm lên trán cu Nhị, giọng nói trong nước mắt:
 - Cu Nhị của bà xấu lắm… nước cháo, nước cơm ăn no ngủ kỹ, chẳng quấy khóc gì… Chỉ thương mẹ nó trúng bệnh ác… con còn nhỏ quá… tội nghiệp!
 Không biết ý bà nói tội nghiệp cho mẹ nó xinh đẹp giỏi giang là thế mà bị bệnh quái ác, hay tội nghiệp thằng bé lọt lòng mà bà phải nuôi cháu như trẻ mồ côi. 
  Chánh tổng, Lý trưởng biết tin con gái ông Phương bị hủi, sai người đến bắt, họ nói:
 - Bệnh hủi nguy hiểm không có thuốc chữa. Con hủi ở làng, lây bệnh sang người khác, phải đưa nó vào rừng ở cách li.
 Chiếc bao bố bằng sợi gai thô, dưới để một lớp lá chuối khô, họ bắt Gái ngồi vào trong, khiêng đi trong tiếng khóc xé ruột của đứa con đang ẵm ngửa. Bà Phương kêu khóc ôm chặt hai thằng cháu vào lòng. Ông Phương ngồi lì bên mép giường, đôi mắt cụp xuống, đau khổ cam chịu. 
 Đoàn người khiêng Gái vừa đi, vừa phát lối. Nhã gánh gồng nồi niêu, gạo nước lầm lũi bước theo. Đến khu rừng rậm rạp không dấu chân người, họ cởi miệng bao thả ra, Gái đứng lên không vững, khụy xuống. 
 Người đàn ông tướng mạo dữ tợn, cầm mã tấu dài cắm phịch xuống đất, mắt trợn trắng lên quát: 
 - Con hủi, mày phải ở đây! Không được đi đâu, nếu ra khỏi nơi này chúng tao giết cả nhà mày.
 Nhã vội chặt cây cắm cọc, buộc dây níu vào thân cây, làm chiếc lều che sương, nắng cho vợ ở. 
 Họ giục nhau ra về, bắt Nhã phải về theo, để lại Gái một mình giữa rừng sâu. 
 Cứ vài ngày Nhã lại trốn làng mang đồ ăn vào rừng nuôi vợ, sống qua ngày. 
 Tiếng dữ đồn xa, dân làng biết Gái bị hủi sợ lây bệnh, ai cũng miệt thị, anh em họ hàng, người làng xa lánh mọi người trong nhà ông Phương. Kẻ ăn người làm cũng dần bỏ việc. 
 Đến một ngày, người ta sợ Gái chết, hủi bay ra truyền bệnh. Lý trưởng sai người vào rừng, không cho nhà ông Phương biết, đào cái hố sâu đổ một lớp vôi dày. Bắt Gái gầy yếu ốm đau, da bọc xương, mặt mũi sưng vù, chân tay máu mủ, ngồi vào trong bao bố, buộc vào đòn khiêng đặt ngang mặt hố, rồi chặt đứt dây cho rơi xuống. Gái kêu khóc, sặc vôi lịm dần trong lớp vôi bột đổ từ trên xuống phủ kín. Lấp hố xong, họ chất đống củi trên cái hố tử thần ấy đốt, rồi rắc vôi xung quanh. Khu rừng ấy cấm người qua lại. 
***
   Không khí làng xã cờ rong trống giục, biểu ngữ giăng khắp nơi, chiến dịch Cải cách ruộng đất, thu ruộng đất của địa chủ, chia cho dân nghèo. Cả xã miền núi, có một hai nhà thành phần trung nông, còn lại là thành phần bần cố nông không ruộng đất. Nhà ông trùm Phương giàu có, thuê người làm, nuôi người ở, quy vào thành phần địa chủ. Đội cải cách đến nhà bắt ông trùm Phương đưa ra đình cho dân đấu tố. 
 Như biết trước số phận, ông Phương nghĩ: “người ta cố tình, ép mình tội chết, thì cũng chết cho đoàng hoàng”. Ông bình tĩnh, xin tắm rửa, mang bộ áo the khăn xếp, để dành phòng khi chết về với tổ tiên ra mặc, ngắm nghía chỉnh tề, đi đôi guốc mộc. Ông đưa tay cho lính đội trói dong ra đình.   
 Được chia ruộng đất, dân phấn khởi tham gia nhiệt tình. Những người trước đây làm thuê cho ông Phương, cả những người không quen biết, bị người ta xúi giục, cũng sấn xổ chỉ thẳng tay dí vào trán, tát vào mặt ông Phương chửi rủa. Ông Phương không theo Pháp, không làm quan chế độ Phong kiến, không phải là địa chủ cường hào gian ác, nợ máu với dân. Ông là địa chủ bóc lột, xem ra tội còn nhẹ. 
 Thằng Thụ làm mật thám chỉ điểm cho Pháp theo dõi ông Phương, không tìm được lí do vì sao ông từ quan, cũng không theo Pháp. Nó mất công rình mò không tìm được chứng cứ gì, Pháp khiển trách, không trả tiền công, nó cay cú. Hòa bình lập lại, Pháp thua rút quân, chế độ Phong kiến sụp đổ. Thằng Thụ tỏ ra là dân lành tham gia tích cực các công việc của làng xã, xung phong vào lính đội, không ai biết nó là Việt gian, giờ nó có dịp trả thù ông Phương cho bõ ghét. Thấy cô Nguyệt ở làng khác đến xem, nhí nhảnh, miệng nói, mắt cười với lính đội. Thằng Thụ cho tiền, mớm lời cho cô Nguyệt tố ông Phương gian ác cậy thế giàu có, hãm hiếp cô ấy. 
Lần đầu giáp mặt ông Phương, thấy thân hình ông gày gò già cả, cô Nguyệt ngượng chín mặt, tham tiền lại muốn lấy lòng lính đội, cô Nguyệt nhảy vào vu oan giáng họa cho ông Phương. 
 Ông Phương bị kết tội địa chủ bóc lột, ức hiếp dân lành, chờ tuyên án tử hình. Nhà cửa ruộng đất, trâu ngựa bị tịch thu, thóc lúa họ kéo đến phá kho chia nhau gánh đi, cảnh nhà tan hoang. Trưa hè nắng chói chang, nóng như lửa nung, người ta đấu mãi rồi cũng chán, chui vào trong đình tránh nắng. Ông Phương, áo the khăn xếp xộc xệch tả tơi, dáng gầy gò đầu trần, chân đất bị trói chặt cánh khỉ vào cột giữa sân đình phơi nắng, bắt nhịn đói, nhịn khát. Thương bố vợ, Nhã mang cơm ra cho ông Phương, lính đội bắt gặp, đổ hắt đi, hằm hằm quát.
 - Mày ngu, thằng Phương bóc lột mày, bắt lấy con hủi làm khổ cả đời mày. Tao bảo mày đấu tố, mày không đấu, còn mang cơm cho nó ăn, đằng nào nó chẳng phải chết, ăn cho phí cơm. Phải đánh cho mày sáng mắt ra. 
 Nói rồi, anh ta đẩy Nhã ngã, cầm gậy thẳng tay đánh đập túi bụi. Máu mồm, máu mũi Nhã chảy ròng ròng mà anh ta vẫn đánh. Nhất mười hai, mười ba tuổi, thấy bố bị đánh đau, xông vào đỡ đòn thay. 
 Thấy bàn chân Nhất sưng vù bị cụt mất đốt, anh ta sợ bỏ chạy, hô toáng lên:
 - Thằng nhóc cháu lão Phương bị hủi ăn mất ngón chân rồi.
 Những người có mặt ở đấy hoảng sợ, vội vàng tránh xa. Họ nghĩ ngay đến cái chết của mẹ nó. Chẳng cần xin ý kiến quan trên, Cai đội tỏ ra quyền lực:
 - Nhốt lão Phương vào chuồng trâu xử sau. Xử lý thằng hủi trước không nó lây bệnh cho cả xã bây giờ.
   Quân lính khẩn trương, nhốt ông Phương vào chuồng trâu nhà anh Đán cạnh đình. Bắt Nhất trói lại khiêng vào rừng. 
 Người vác vôi, người đào hố, người lấy củi. Hố đào chưa sâu, củi chưa đủ thì trời tối. Họ cử người ở lại trông, sáng hôm sau làm tiếp. 
 Nhất bị bỏ đói, chân tay trói chặt vào đòn khiêng sưng vù, nằm dưới gốc cây bên cạnh cái hố đang đào dở. 
 Trăng cuối tháng lờ mờ, gió nhẹ, tiếng đêm rừng xào xạc, tiếng tắc ké, rế rũi ra rả inh tai, thỉnh thoảng vọng lại tiếng hú của lũ vượn rờn rợn. Trên cây cổ thụ bóng ma chơi xanh, đỏ bằng nắm tay bay lên lập lòe, lượn tròn rơi xuống vụt tắt, rồi lại bay lên lơ lửng. Tiếng rừng khuya âm u thanh vắng. Dưới gốc cây cách xa chỗ Nhất nằm, nhóm lính gác đốt đống lửa, trải lá chuối rừng ra làm chỗ nghỉ tạm, thỉnh thoáng họ soi đuốc đến gần chỗ Nhất rồi bỏ đi.
 Anh lính gác lẻn đến hỏi Nhất:
 - Mày đói lắm phải không? 
 Có người đến hỏi, Nhất mừng cuống líu lưỡi, từ trưa đến giờ chưa được miếng cơm, hớp nước nào, khát cứng họng, Nhất thều thào. 
 - Anh cho em xin ngụm nước… 
 Ghé bầu nước vào miệng Nhất cho uống, rồi rút trong túi ra nửa nắm cơm, anh lính cẩn thận bấu ra, nắm lại từng miếng nhỏ, không để cơm vương ra đất, bón cho Nhất ăn, anh nói:
 - Tao thương mày, không làm gì được. Sáng mai mày bị chôn sống rồi… hủi ăn mới có một đốt ngón chân, nếu gặp thầy gặp thuốc, mày sẽ khỏi. Tội nghiệp mày còn nhỏ quá… mày chết… mày đừng oán tao. 
 Nhất van nài:
 - Anh cởi trói cho em… em trốn đi …
 Ngẫm nghĩ một hồi, anh cúi xuống nói nhỏ.
 - Mày hứa với tao, mày phải đi thật xa, không bao giờ được quay về đây nữa. Nếu bị bắt mày phải nói là mày cựa dây lỏng ra, mày tự cởi trói. Không được khai tao thả mày. Việc này sống để bụng, chết mang theo, mày khai ra là mày giết cả nhà tao đấy.
 - Vâng, em hứa...
 Nhất quả quyết. Tần ngần như không yên tâm, anh lại cúi xuống thì thầm.
 - Mày phải đi thật xa nơi này, ai hỏi mày nói: bố mẹ chết rồi, mày đi lang thang không biết nhà ở đâu, thì may ra còn được sống. Mày mà nói quê ra là họ lại đưa về đây, mày bị chết đấy...  Giờ cứ nằm im ở đây, chờ cho hai thằng gác ra kiểm tra xong hãy trốn.
 - Vâng…
 Anh lính cẩn thận lới lỏng các nút thắt đủ để Nhất cựa rút được tay, chân rồi nặn cạp quần nhét vào túi áo Nhất mấy xu.
 Một lát sau, hai người gác đến kiểm tra, đứng xa giơ đuốc lên cao, thấy Nhất nằm yên, họ quay về chỗ nghỉ. 
 Nhất nhẹ nhàng rút tay chân ra khỏi dây trói, bò đi một đoạn, rồi đứng dậy cúi khom người, rón rén sợ giẫm phải cành cây gây tiếng động. Đi khá xa chỗ bị trói, Nhất chạy thục mạng, rẽ rừng lao xuống dốc. 
 Trời sáng, Nhất đi đến bến sông xa lạ, chợ quê kẻ mua người bán thưa thớt. Mệt, đói Nhất vào chợ mua mấy cái bánh vừa đi, vừa ăn cứ chiếu thẳng đường mà đi, càng xa càng tốt. Đi không kể ngày đêm, đói mua gì đó ăn tạm, hết tiền lại xin ăn, mệt đâu chui vào bụi cây ngủ tạm. 
 Một hôm, đang đi trên đường cái quan, Nhất gặp một đoàn bộ đội đi qua. Có chú đứng lại nhìn Nhất từ đầu đến chân, Nhất sợ cúi mặt xuống. Chú nhẹ nhàng hỏi:
 - Cháu tên là gì?... Nhà cháu ở đâu?
 Nhớ lời anh lính gác, Nhất chần chừ rồi lí nhí:
 - Cháu tên là Nhất… Bố mẹ cháu chết rồi… cháu đi lang thang không biết nhà ở đâu.
 Với giọng ân cần, chú nói:
 - Cháu bị bệnh phong hủi, là bệnh nguy hiểm dễ lây sang người khác, chúng tôi đưa cháu vào trại phong chữa bệnh.
 Nghe đến câu “đi chữa bệnh”, Nhất nghĩ ngay là mình được sống rồi. Nhất vui mừng vâng lời đi theo các chú. 
***
 Có anh cán bộ Cách mạng từ Liên khu Việt Bắc đi công tác qua, hỏi thăm ông Phương, nghe người làng nói: “Lão trùm Phương sắp bị tử hình đang bị nhốt ở đình”. Anh cán bộ cưỡi ngựa vội ra sân đình rút súng lục bắn liền ba phát chỉ thiên rồi quát:
 - Thả ông Phương ra ngay, nhà ông ấy là cơ sở cách mạng. Ông ấy đóng góp tiền của, gạo thóc cho cách mạng, ủng hộ kháng chiến, đã góp phần cho đất nước giành độc lập, sao các anh lại đối xử với ông ấy như thế? 
 Tiếng súng uy lực và giọng nói nghiêm khắc làm quân lính cai đội hoảng sợ, vội vàng lẩn trốn. Anh cán bộ ấy đến Ủy ban xã viết giấy xác nhận về thành tích của ông Phương đóng góp cho kháng chiến. Ông Phương được thả tự do về nhà.
 Năm sửa sai ông Phương được Chính phủ tặng bằng “Gia đình có công với cách mạng”, được vinh danh mọi người mới biết, khi Cách mạng còn trong hoạt động bí mật, nhà ông Phương là cơ sở Cách mạng, nằm giữa con đường nối miền xuôi với miền ngược. Cán bộ cách mạng miền xuôi lên Chiến khu, từ Chiến khu về xuôi nghỉ chân tại nhà ông. Với danh nghĩa là những lái buôn, lái trâu đổi ngựa, người buôn. Tiền bạc, gạo thóc người ta mua gánh đi là của ông Phương đóng góp cho Cách mạng. Mật thám theo dõi không tìm được chứng cứ, vì quanh năm suốt tháng ông Phương chỉ ở nhà, không quan hệ thân mật với ai. Nhà ông cao cổng kín tường, lại có người bị hủi dân làng xa lánh, chính là nơi an toàn cho cán bộ cách mạng đi về. 
 Dân làng truyền tai nhau: “Phúc nhà ông Phương to lắm! Không có thằng cháu hủi thì ông Phương bị bắn chết trước khi anh cán bộ cách mạng về rồi”. “Thằng cháu ông Phương chết kề miệng hố mà vẫn trốn thoát, đúng là số cao phúc dày!” “Ông Phương kín miệng, hiền lành, người ta đấu tố như thế mà chẳng hé răng nói một câu, bị khoác tội chết cho mà vẫn cam chịu. Đúng là người làm cách mạng”.
 Thôi thì, người tốt, nói tốt, kẻ xấu nói xấu ai nói gì chẳng được, ông bà chẳng chuyện trò thanh minh với ai. Cô Nguyệt về bị dân làng dè bửu “con thảo mai”, xấu hổ trốn vào rừng thắt cổ tự tử. Thằng Thụ cũng bỏ làng, đưa vợ con đi đâu, mà đến cả bố mẹ, anh em nhà nó cũng không ai biết.
 Ngôi nhà của ông Phương qua sóng gió đã bình yên. Ruộng nương, trâu ngựa được chia theo định xuất như bao người khác. 
 Ông Phương ngồi khoan thai nhai trầu, bấm đốt ngón tay rồi nói với Nhã:
 - Xem ra thằng Nhất chưa chết đâu, mệnh nó dài lắm. Con dành thời gian đi tìm nó, trước sau sẽ thấy. 
 Bà Phương dỡ trong bao tượng ra mấy chỉ vàng đưa cho Nhã.
 - Mẹ dấu còn có bằng này, con giữ làm lộ phí đi tìm thằng Nhất, một phần để dành phòng khi nhà có việc.
 Tám, chín năm sau ông bà Phương lần lượt qua đời, Nhã lo liệu tang ma cho bố mẹ vợ xong thì gọi Nhị đến bảo:
 - Bố bị mắc bệnh, phải đi trại phong chữa bệnh, rồi đi tìm anh con… Bên nội, bác với các chú đều tham gia kháng chiến, chú Nhu hy sinh ở Điện Biên, chú Nhạ khi tiễu Phỉ xong ở lại Hà Giang làm cán bộ, lấy vợ sinh con ở trên ấy. Cô út lấy chồng khác làng. Bác cả Nhiên làm du kích ở nhà ông bà, con ở đây buồn thì về ở với bác cả.
 Nhị rơm rớm nước mắt: 
 - Bố yên tâm đi chữa bệnh, không phải lo cho con đâu, con đã lớn rồi.
***
 Núi rừng heo hút, bên bờ biển vắng ghềnh đá nhô ra biển sâu, tầu thuyền không qua lại. Đường vào lau sậy, ràng ràng mọc um tùm, tách biệt, xa nơi dân cư chợ búa, trại phong Quỳnh Lập là một gia đình lớn của những người bị bệnh phong. Nhất được các chú bộ đội đưa vào trại chữa bệnh. Mấy năm sau anh bén duyên cô y tá, vợ chồng sinh được bốn người con, hai trai, hai gái. 
 Nghe tin có người ở quê nhập trại, Nhất đến hỏi thăm. Vừa bước vào phòng anh ôm chầm lấy ông Nhã khóc nức nở, như đứa trẻ. Bác Nhã ôm lấy anh.
  - Con! 
 Sau bao năm xa cách, giờ cha con mới được gặp nhau.
 Ngôi nhà nhỏ trong làng Phong vốn im lìm cam chịu, giữa nơi hoang vu, nay bỗng rộn lên tiếng nói tiếng cười của dân cư trong làng đến chơi. 
 Ông Nhã nói:
 - Quả trời không phụ lòng người, nhớ lời ông ngoại dặn, bố vào Trại phong Quả Cảm ở Bắc Ninh chữa bệnh tìm không thấy con. Bố lại xin chuyển vào đây, phúc trời cho cha con được đoàn tụ. 
 Anh Nhất kể:
 - Nhờ ân đức của anh lính gác đã cởi trói cho con và các chú bộ đội đưa con vào đây con mới được sống. Con không bao giờ quên được công ơn ấy.
 Nhất nói cho cha biết, ngày khỏi bệnh anh tìm về quê ngoại thăm bố nhưng nhà chỉ còn lại khu đất hoang cỏ um tùm. Người ta nói: Từ ngày bố con ông Nhã bỏ đi không biết ai đã đốt ngôi nhà ấy, ruộng đất để cỏ, thôn chia cho các hộ làm. Rồi anh nói:
 - Con về quê nội thăm bác cả, cô Nhài, lên Hà Giang thăm chú Nhạ. Em Nhị đã lấy vợ có con. Mọi người đều mạnh khỏe làm ăn khá lắm. Gia đình mình đã đưa hài cốt chú Nhu về an táng ở nghĩa trang liệt sỹ ở quê để tiện chăm sóc.
 Bệnh phong hủi dần bị lãng quên, lùi về quá khứ đau buồn.
Trước sân nhà thầy giáo Nhân con anh Nhất giàn phong lan nở rộ khoe sắc muôn màu như đón chào cái nắng ấm áp rực rỡ của mùa hè. 
 
  
 
 
 
 

Nguyênc Thị Minh Lý

Tin khác

Cửa sinh cửa tử (24/06/2021 08:20)

Rau cay (24/06/2021 08:17)

Những đứa gái mùa Covid (28/05/2021 16:27)

Cốc Nặm (28/05/2021 16:16)

Sáo và Mai (28/05/2021 16:05)

Đồng đội (28/05/2021 16:01)

Tùy duyên (28/05/2021 15:58)

Bóng người sau lưng ngựa (26/04/2021 08:36)

Sâu lắm lòng người (26/04/2021 08:33)

Phiên trực đầu xuân (22/03/2021 15:19)

xem tiếp

Nhân vật sự kiện lịch sử

Thơ mới đăng

Văn xuôi mới đăng

Thăm dò ý kiến

Bạn đang tích lũy tài sản gì?
Bất động sản
Tài sản cố định
Tiền gửi ngân hàng
Tiền mặt
Vàng